Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

“Thêm một lần tiễn đưa” Khúc tráng ca của một thời ra trận




THÊM MỘT LẦN TIỄN ĐƯA thơ Kim Thanh
(Thương tặng những người Mẹ, người vợ thêm một lần tiễn chồng, tiễn con
tham gia chiến đấu ở mặt trận Tây Nam năm 1978)



          Thêm một lần
          Em tiễn anh
Lên đường ra mặt trận
            Thêm một lần đôi mắt mẹ nhòa lệ tiễn đưa.
              Thêm một lần lòng người dân rực lửa.

     Thiêu cháy quân thù  lấn chiếm biên cương.

             Lần đầu tiên tiễn anh
     Áo em chưa nhàu sau ngày hôn lễ,
     Mắt mẹ buồn thương xen lửa căm hờn
     Quê mình đầy bóng giặc.

             Anh thương yêu
     Làm sao nói được
     Nỗi buồn thương,
     Niềm tự hào
     Từ tâm hồn em - người vợ trẻ
     Từ cõi lòng mẹ già,
                                đã bao lần dấu giọt lệ xót xa...
     Trong những ngày anh xa
     Mẹ già luôn dõi bóng
     Trong những buổi chiều tà khói lam tỏa mỏng
     Thủ thỉ về anh, giọng mẹ đượm buồn

Vất vả vì anh, bao đêm nước mắt tuôn
Những ngày ấy khi anh chưa tròn tháng
Cha thân yêu ra đi làm cách mạng
Anh đâu biết mỉm cười trong âu yếm vòng tay cha
Chưa biết buồn, chỉ biết khóc oa oa
Khi khát sữa mẹ chưa cho kịp bú
Nỗi lo âu mẹ bao đêm không ngủ
Nén buồn thương, rũ xuống mái tranh nghèo
Nén sầu đau lo cảnh sống gieo neo
Thương con nhỏ mồ côi, sợ bao điều bất hạnh...
     Và hôm qua
     Mắt nhòa lệ mỉm cười mẹ nhìn chiếc áo xanh
     Gạt nước mắt em ngả đầu vào lòng anh sung sướng
     Năm năm rồi anh ơi, em chưa một lần được hưởng
     Trọn niềm vui trong nghĩa vợ tình chồng
     Anh có biết không, những năm tháng chờ trông
     Nghe tiếng súng xa mong quê mình giải phóng
Rồi hôm nay
     Con chúng mình bước đi còn chập chững
     Anh lại lên đường
     Theo tiếng gọi của non sông
     Thêm một lần tiễn đưa
     Em thầm nhủ trong lòng
     Hãy xứng với anh
                        Những tháng năm xa ...




“Thêm một lần tiễn đưa”
Khúc tráng ca của một thời ra trận

            Đất Mẹ Việt Nam từ thủa hình thành niên sử, đã ghi tạc lại biết bao dấu ấn khó phai mờ. Cố nhạc sĩ họ Trịnh trong cuộc đời rong chơi lẫm liệt của mình đã từng khái quát, phác hoạ rất thành công biểu tượng Mẹ Việt Nam, tượng đài vĩ đại và chân thực nhất bằng chất liệu nghệ thuật âm nhạc “Một nghìn năm đô hộ giặc tàu/ Một trăm năm nô lệ giặc tây/ ba mươi năm nội chiến từng ngày/ Gia tài của mẹ/ một đồng xương khô/ gia tài của mẹ nhà cháy từng làng”. Sự ác nghiệt của chiến tranh là vậy, và sự nhọc nhằn hi sinh của Đất Mẹ lớn lao là vậy. Dòng thác cách mạng đã làm nên cuộc đổi mới kì diệu cho những vùng đất chết trên cơ thể Đất Mẹ hồi sinh. Sự kiện thống nhất đất nước 30/4/1975 đánh dấu mốc son chói lọi, Đất Mẹ tưởng như đã được thảnh thơi an hưởng thái bình thì cuộc chiến tranh biên giới năm 1978 lại nổ ra, hoạ diệt chủng của chế độ PônPốt – Yiêngsari lơ lửng đe doạ sự bình an của những đứa con sống trên Đất Mẹ Việt Nam. Tiếp tục cầm súng chiến đấu là mệnh lệnh, là nghĩa vụ của những người con kiên trung vừa đi ra từ cuộc chiến tranh giải phóng đất nước, áo còn vương mùi khói súng. Bảo vệ trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ là tiếng gọi thiêng liêng cất lên từ Đất Mẹ thôi thúc bao lớp người vững bước ra đi...
            Bài thơ “Thêm một lần nữa tiễn đưa” của Kim Thanh, người nữ chiến sĩ giải phóng miền Nam ra đời trong hoàn cảnh đó, như thước phim quay chậm, đặc tả cuộc tiễn đưa giữa những thế hệ, người ra trận và người ở lại theo từng khuôn hình cảm xúc, bám sát tới từng chi tiết của một giai đoạn lịch sử với tính ước lệ cao, thấm đẫm nội cảm nhân vật.
      Mang tiết tấu của một câu chuyện kể, với cấu trúc phân mảng, phân đoạn, mỗi nhịp thơ là một chi tiết đặc tả cảm xúc nhân vật rất chân thực, sống động. Trong chuỗi cấu trúc của những sự kiện hình ảnh nhân vật “Em” luôn song hành cùng hình tượng người “Mẹ” với cấp độ cảm xúc cao dần theo mỗi phân đoạn:
                   Thêm một lần
                   Em tiễn anh
                   Lên đường ra mặt trận
                         Thêm một lần đôi mắt mẹ nhòa lệ tiễn đưa.
              Thêm một lần lòng người dân rực lửa.
Điệp ngữ “Thêm một lần” xuất hiện liên tiếp trong khổ đầu đóng vai trò cầu nối, dẫn dắt sự xuất hiện của chủ thể trữ tình (nhân vật “Em” xuất hiện song hành cùng hình ảnh “Mẹ” trong dòng chảy cảm xúc riêng và “lòng người dân” mang tính thế hệ, thời đại - dòng chảy cảm xúc chung) đã tạo ra cảm giác dồn dập liên tiếp, đẩy tính sự kiện lên cao khiến người đọc bị cuốn hút vào thác cảm xúc và những sự kiện tiếp theo sẽ xuất hiện trong bài mà không bị nhàm chán, ngắt quãng, hay rời rạc.
            Tuy kết cấu của toàn bài theo thể thức phân mảng, phân đoạn nhưng nhờ hiệu ứng nghệ thuật sử dụng điệp từ, điệp ngữ trong đoạn đầu, nên người đọc không hề có cảm giác bị bất ngờ đột ngột. Bằng thủ pháp rũ rối thời gian và không gian nghệ thuật, các đoạn thơ tiếp theo là những chi tiết đặc tả cận cảnh từng sự kiện đã xảy ra theo một lôgic tuần tự, hết sức khách quan, trọng thị:
Lần đầu tiên tiễn anh
...
Trong những ngày xa anh
...
Và hôm qua
...
 Rồi hôm nay...
            Nếu đoạn đầu mạch thơ chìm trong lớp sóng thuần tuý của hai dòng cảm xúc riêng, chung thì ở đoạn thứ hai, sự biến chuyển trong nội tâm nhân vật em dần rõ nét, định hình theo chiều sâu của tư duy, triệt để tuân thủ lôgíc và lý tính. Hình ảnh “Áo em chưa nhàu sau ngày hôn lễ” tác giả sử dụng trong đoạn này rất đắc địa, khiến tự thân câu thơ được nâng lên tầm cao nghệ thuật sử dụng ngữ ngôn, và chính ở đây sự bùng nổ văn bản đã xuất hiện, nhân vật em và áo em chưa nhàu đã trở thành siêu biểu tượng văn học. Với tính đột phá cao, câu thơ như được tiếp thêm sức mạnh mới của tầng nghĩa phái sinh khi bổ trợ cho hình ảnh “Áo em” là đôi mắt đầy lo âu của người mẹ thương con ”Mắt mẹ buồn thương xen lẫn căm hờn”, dòng cảm thức mới lạ bắt đầu được nhen nhóm với bề rộng của tầm quan sát tàng ẩn sau đôi mắt người mẹ tiễn con ra trận, nhờ vậy không gian nghệ thuật trong đoạn thơ thứ hai trở lên khoáng đạt và rộng mở khôn cùng theo chiều “Mắt mẹ” - chiều sâu thời gian “Quê mình đầy bóng giặc
Anh thương yêu
Làm sao nói được
...
Từ tâm hồn em - người vợ trẻ
Từ cõi lòng mẹ già...”.
Hình ảnh người mẹ được tác giả kỳ công xây dựng và chuẩn bị rất kỹ lưỡng, qua những nét tả chân đặc sắc của nghệ thuật hội hoạ, đã phác thảo nên chân dung, người mẹ chiến sĩ, người mẹ Việt Nam, người mẹ của muôn đời mà điểm bắt đầu là “đôi mắt”, ” Đôi mắt nghệ thuật” xuất hiện ở cuối đoạn thơ thứ nhất “Thêm một lần đôi mắt mẹ nhoà lệ tiễn đưa”, kết hợp cùng đôi mắt ở đoạn thơ thứ hai “Mắt mẹ buồn thương xen lửa căm hờn” đã toát nên trọn vẹn thần thái của mẹ. Nhưng phải đến đoạn thơ thứ ba chân dung của “Mẹ” mới được xây dựng hoàn thiện với đầy đủ chi tiết sống, qua bút pháp linh hoạt, tài hoa của tác giả. Ở “Mẹ” hội tụ đầy đủ các đức tính và phẩm chất của người phụ nữ Á đông, nhuần nhị, thuần phác và giàu đức hi sinh, là cả hậu phương lớn, nơi gửi gắm niềm tin của bao nhiêu thế hệ. Đoạn thơ này các chi tiết, hình ảnh thơ được chọn lọc kỹ lưỡng và rất “đắt” khi sử dụng bộc lộ thế giới nội cảm của nhân vật mẹ
Mẹ già luôn dõi bóng
...
Giọng mẹ đượm buồn
...
Khi khát sữa mẹ chưa kịp cho bú
Nỗi lo âu mẹ bao đêm không ngủ
Thương con nhỏ mồ côi, sợ bao điều bất hạnh...
Nhân vật em trong đoạn thơ trên hầu như không xuất hiện, tưởng như bị chìm khuất đi giữa seri thi ảnh đặc tả nội tâm người mẹ. Nhưng ở trong dòng chảy của những lớp cảm xúc dồn nén này, ta vẫn thấy thấp thoáng bóng hình nhân vật em hoá thân vào lời kể của hai nhân vật phụ: cha và anh khi diễn tả về “Mẹ”.
Hai đoạn thơ tiếp theo với những cung bậc tình cảm vui mừng và quyến luyến khi cuộc chia tay sắp đến, cụm từ thêm một lần nữa lại được tác giả sử dụng như tiếng chuông hiệu báo quãng thời gian trong quá khứ đã dần cạn như hạt cát chỉ thị cuối cùng trong chiếc đồng hồ cát, có sức gợi nhớ và liên tưởng cao, nhắc nhở người đọc quay trở về với thực tại và điểm nhấn nghệ thuật chính là cuộc chia tay sắp diễn ra. Hình tượng người mẹ và em cùng xuất hiện trong khổ thơ như hoà quện vào nhau, nâng tựa cho nhau cùng phát triển và hoàn thiện hướng đến sự tròn trịa viên mãn trong nghệ thuật xây dựng tâm trạng nhân vật.    
            Âm hưởng tráng ca ngân vang suốt hành trình bài thơ chính là nội dung tư tưởng nghệ thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật thơ qua các thủ pháp (thi pháp) mà tác giả Kim Thanh đã sử dụng. Thành công hơn nữa khi vượt qua thời gian bằng sức sống mãnh liệt của nó, bài thơ “Thêm một lần tiễn đưa” đã khẳng định và đem lại cho độc giả nhiều suy ngẫm, thấu hiểu tận chân giá trị nhân sinh, nhân bản phái sinh từ các mối quan hệ qua lại giữa các thế hệ trước cuộc chiến tranh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ dân tộc Việt Nam giai đoạn sau giải phóng.

           

Chén dâng lên mẹ: Một đời thơ






Chén dâng lên mẹ
“Con viết cho mẹ bài văn Lời mẹ tôi”

                        Con viết cho mẹ bài văn
            Mới nghe tưởng mẹ bảo làm văn chương
                        Ngoài vườn gió động cành dương
            Hiểu ra lời mẹ mắt vương lệ nhoà
                        Mẹ ơi tám chục năm qua
            Nửa đời áo rách cháo hoa nửa đời
                        Chiếu không đắp đủ chân người
            Bàn tay úp mặt ngủ ngồi ngủ nghiêng
                        Góc nhà tiếng dế đêm đưa
            Phận nghèo nước mắt đè lên phận nghèo
                        Cha đi thăm thẳm núi đèo
            Hầm lò bóng tối quấn theo bên người
                        Vật vờ lòng đất cha ơi
            Một ngày bằng cả cuộc đời bỏ đi.
                        Lớn lên lời mẹ con ghi
            Sữa từ rau cháo lọc vì chúng con
                        Con không bị những roi đòn
            Nước non che chở cho con nên người
                        Mẹ vui trăm tuổi mẹ ơi
            Chén dâng lên mẹ rót lời thơ con.
                                                                        Năm 1986
         
Nếu đem phân tích cặn kẽ các yếu tố cấu thành lên cuộc đời con người một cách độc lập, riêng rẽ theo những tuyến sơ đồ, có lẽ trong cuộc đời này chưa từng có ai làm và tất nhiên chẳng có ai dám mạo hiểm mà làm cái công việc này cả. Bởi cuộc đời một con người là chằng chịt những mối quan hệ, tương tác đan cài với nhau, xen lồng vào nhau theo những mối liên hệ dọc, ngang tự nhiên giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, với vạn vật trong vũ trụ, và cả những mối liên hệ tưởng như không tồn tại, phi tự nhiên là thế giới vô hình, siêu vô hình nữa. Thế nhưng có một yếu tố chung mà cả loài người đều phải khẳng định, thừa nhận để minh chứng cho luận thuyết đó, và nó cũng là thành tố không thể thiếu được trong cấu trúc cuộc sống trong cuộc đời mỗi con người, ấy là định tố Mẹ, là hiện thân của tri thức sinh dưỡng, mang nặng đẻ đau, nuôi nấng, nâng niu ngay từ lúc bản ngã con người vừa sơ khai khẳng định - khi Ta – bản ngã vừa cất tiếng khóc chào đời đầu tiên.
Trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam – tâm thức tiêu biểu cho cư dân vùng văn minh lúa nước với đặc trưng của văn hóa làng xã thuần nông, thì yếu tố Mẹ (cái ) là yếu tố văn hóa hàng đầu, nó bao hàm và chi phối hầu như toàn bộ các mối quan hệ trong cuộc đời mỗi người, yếu tố này còn biểu hiện rõ ràng và in đậm dấu ấn cho tới tận ngày nay trong dân gian, nên khái niệm văn hóa phồn thực, qua các tục lệ thờ cúng, tế lễ, hội hè (tục thờ Mẫu – đạo Mẫu, hội Linh Tình Phộc), không những thế, yếu tố Mẹ còn quyết định tới cả cấu trúc của ngôn ngữ trong thói quen giao tiếp hàng ngày, như một đơn vị từ có khả năng kết hợp cao (mệnh đề Cái + danh từ chung = tổ hợp từ mới; ví dụ như những từ chỉ vật dụng thường ngày, bàn, ghế, cây (danh từ chung) nhưng khi kết hợp cái bàn, cái ghế, cái cây thì được ngầm hiểu như một mặc định đó là yếu tố mang tính chất riêng, cụ thể hơn, có sức sống hơn).   
Trong bài thơ Chén dâng lên mẹ của tác giả Trương Công Tường, in trong tập thơ Như anh đến với em – Nhà xuất bản Hội nhà văn 2010, luồng cảm thức về Mẹ khá đậm đà, chi phối hầu như toàn bộ tư duy và cảm hứng sáng tạo, sự ám ảnh văn chương đó đã vượt ngưỡng trở thành tâm thức thi ca của Trương Công Tường:
“Con viết cho mẹ bài văn
Mới nghe tưởng mẹ bảo làm văn chương”
Sự ám ảnh xuất hiện ngay sau hai câu thơ mào đầu, đã có tác dụng như mũi kim ngọt, sắc đâm xuyên thấu lớp da mỏng manh, dễ rách, vỡ của tâm hồn nhạy cảm và tinh tế thường trực trong con người cầm bút “làm văn” những buổi đầu. Trong ngữ cảnh này ý thơ lãng đãng như không, như thực, và câu thơ tưởng như muốn thuật lại nguyên si ý nguyện của mẹ và sự ngộ nhận của người đang dợm chân bước vào con đường văn chương đầy khắc nghiệt của chốn “trường văn trận bút”. Nhưng hình như ẩn đằng sau nó là cả một chuỗi chuỗi những tâm tư, lo lắng, sự căng thẳng trong tâm trí người mẹ vì lo lắng trước dự báo tương lai của con sau này: “Con viết cho mẹ bài văn”. Bài văn của mẹ yêu cầu ở đây, phải chăng chỉ là một thử thách của mẹ khi muốn con mình “làm văn chương”:
Ngoài vườn gió động cành sương
Hiểu ra lời mẹ mắt vương lệ nhòa.
Hai câu thơ tiếp sau, đã mơ hồ trả lời được chút nào khúc mắc trong lời đề nghị của mẹ, nhưng không phải ngay thời điểm bấy giờ mà tác giả của chúng ta đã ngộ ra điều ấy. Bằng sức nặng của nghệ thuật sử dụng ngôn từ và thủ pháp rũ rối không gian đẫm tính ước lệ “vườn gió, cành sương” và thời gian (hiểu ra), tác giả đã giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn cái tứ sâu xa ẩn sau lời yêu cầu “viết bài văn” tưởng như giản đơn kia của mẹ, đâu chỉ là đơn thuần hay thuần túy văn chương, mà trong nội dung chữ “Văn” đó, còn là những gập gềnh, khúc khuỷu, gian truân gói trọn một cuộc đời “làm Người”.
Khi xem xét kỹ văn bản khổ thơ mở đầu, chúng ta đều nhận thấy cảm thức Mẹ đã dần định hình, theo cấp độ cao dần trong tư duy người con, tuy nhận thức còn thuần túy lý tính, biểu hiện qua mối quan hệ giữa hai nhân vật; “Mới nghe tưởng mẹ bảo làm văn chương”. Vô hình chung, hình tượng Mẹ và Con đã trở thành những điển hình tiêu biểu cho hai thế hệ, hai luồng tư tưởng, cùng hướng về một quan điểm chung “Văn và Đời”. Điểm nhấn cao nhất trong khổ thơ này nằm ở nghệ thuật phân lớp, phân cảnh và dàn dựng nhân vật thơ trên văn bản. Bằng lối “cảm” độc đáo, Trương Công Tường đã để nhân vật Con tự bộc lộ tận cùng tâm trạng, biến cả khổ thơ đầu tiên ấy thành kho thông tin, chứa đựng đầy yếu tố bất ngờ, để rồi đưa hai trạng thái nhân vật tiếp cận đến tận chân cuộc đời “kẻ làm văn”, như một định kiến giữa đời thường, chật vật, gian nan, thiệt thòi, hội tụ đủ các cung bậc cảm xúc cay đắng xa xót.      
Tiếp theo mạch tư duy của khổ thơ thứ nhất, cảm thức Mẹ xuất hiện với đầy đủ yếu tố văn hóa cấu thành, là những tia sáng ánh xạ lại từ nhân vật Mẹ rất sống động, qua cảm nhận của nhân vật Con.
Mẹ ơi tám chục năm qua
Nửa đời chiếu rách, cháo hoa nửa đời...
Phận nghèo nước mắt đè nên phận nghèo...
Vật vờ lòng đất cha ơi
Một ngày bằng cả cuộc đời bỏ đi”...
Song song cùng sự hoàn thiện cảm thức Mẹ, tâm thức Mẹ cũng dần định hình theo từng dòng cảm thức của Con về Mẹ, chính sự hi sinh cả cuộc đời cho chồng, cho con, và ý thức vượt lên trên hoàn cảnh sống khắc nghiệt của mẹ, đã truyền sang con dòng tri thức sống vượt qua định mệnh, can trường chấp nhận mọi hoàn cảnh cho lý tưởng sống của mình:
“Chiếu không đắp đủ chân người
Bàn tay úp mặt ngủ ngồi ngủ nghiêng...” 
  Trải qua những hoàn cảnh tận cùng khó khăn, nhân vật Con càng thấm thía mỗi khi nhớ lại lời yêu cầu “viết bài văn” cho mẹ, thuở mình còn thơ trẻ. Và bản chất thực trong chữ “Văn” của mẹ càng tăng sức nặng theo thời gian, từ cách tính ước lệ bằng hàng chục năm, rồi bằng cả cuộc đời của một con người mà mới chỉ có thể cảm nhận được phần nào. Trong khổ thơ này nguyên lý chồng chất sự kiện (phận nghèo) và thủ pháp so sánh tương đối (một ngày, cả cuộc đời), được tác giả sử dụng thật đắc địa, nhuần nhuyễn đã tạo hiệu ứng cho xúc cảm nghệ thuật thăng hoa “Phận nghèo nước mắt đè lên phận nghèo...// Một ngày bằng cả cuộc đời bỏ đi...”.     
  Khi tách riêng khổ thơ thứ hai, và xem xét nó như một chỉnh thể nghệ thuật phái sinh, ta rất dễ lầm với hoàn cảnh thực của tác giả Trương Công Tường khi ấy, thời điểm cảm hứng bài thơ này tìm đến với ông. Ấy là khi ông đang miệt mài đi theo bước chân những người địa chất lùng tìm từng vỉa quặng trong lòng rừng sâu. Chính những chi tiết thơ kiến tạo lên hình ảnh thơ có sức sống kì lạ, khi làm nhiệm vụ phản ánh, tái tạo lại cái nghèo, cái thiếu thốn của nhân vật Mẹ và cũng tràn đầy tâm trạng; chiếu đắp không đủ chân, bàn tay úp mặt, rồi các tư thế ngủ, ngủ ngồi, ngủ nghiêng, vật vờ lòng đất, đã trở thành những biểu tượng tiêu biểu đầy tính văn học và rất sống, rất sinh động ấy lại được xuất phát từ những cảm xúc rất thực tế mỗi khi ông đi công trình. Còn khó khăn khi ấy thì có lẽ chỉ người bạn đời đầu gối tay kề của ông sau mỗi chuyến công tác, ông trở về nghỉ ngơi ở bên, dù thời gian hết sức ngắn ngủi để chuẩn bị cho những chuyến đi lần sau mới có thể sẻ chia được. Và cũng chỉ có người vợ thủy chung tần tảo ấy, người đã được thừa hưởng những đức tính của Mẹ (từ hữu thức và vô thức), mới có thể động viên ông tiếp tục vững bước trên đường trường đi theo lý tưởng của mình, sau mỗi bế tắc trong công việc, cuộc sống. Ấy là khi ông thốt lên những câu thơ mang đầy tính dự báo số phận cho nhân vật thơ :
 “Vật vờ lòng đất cha ơi
 Một ngày bằng cả cuộc đời bỏ đi .
Lối ví von đầy ngẫu tượng mà bất ngờ, tưởng chừng đã làm tan loãng đi cảm thức Mẹ đang định hình cận điểm, rõ nét trong tác phẩm, thậm chí “nó” chẳng ăn nhập gì với mạch thơ đang dào dạt tâm trạng hoài niệm, khi xen hình tượng người Cha xuất hiện giữa mạch chảy cảm thức. Đó phải chăng chính là khoảng lặng cần thiết để dòng tâm thức Mẹ tiếp tục biến chuyển thêm một nấc cao mới trong tư duy Con. Điểm nhấn nghệ thuật ở đây, được đẩy thêm lên một nấc cao mới, lời than thở của con khi cảm thấy mình bất lực trước cuộc sống, phải cất lên tiếng gọi cha ơi ngầm khẳng định sáng tỏ thêm cho tâm thức Mẹ trong lời đề nghị “viết cho mẹ bài văn” đã đề cập trong câu thơ mào đầu thêm tính nhất quán cao. Với thủ pháp sử dụng triệt để lối tư duy ngắt quãng, tâm thức Mẹ ở đoạn thơ thứ hai được Trương Công Tường xây dựng đã đạt tới vẻ đẹp của một biểu tượng văn học điển hình, thông qua đức tính hi sinh, tần tảo chung của người phụ nữ, và nỗi đau giữa dòng đời của những người phụ nữ Việt Nam trước cách mạng, vì mưu sinh mà người chồng trụ cột gia đình bắt buộc phải quên thân mình (Lấy thân đổi mấy đồng xu/ Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng – Tố Hữu) mà lao vào chốn hiểm nguy “Một ngày bằng cả cuộc đời bỏ đi” của nghề phu mỏ. Từ tập hợp logic các sự kiện đã toát nên chân lý mọi nỗi đau đều dồn lên đôi vai người phụ nữ mà tâm thức Mẹ càng thêm ngời sáng.
Văn chương giữa chốn chợ đời, cũng tựa như viên trân châu đem trộn lẫn với đám mắt cá, mấy ai đã sành sỏi nhận ra. Ở giữa hoàn cảnh khó khăn đến bội phần, ngay cả miếng ăn còn phải dè sẻn, thì kẻ làm văn làm sao sống nổi. Vậy mà khi hoài thai tác phẩm này vào giữa những năm đất nước còn muôn vàn khó khăn (năm 1986) bài thơ vẫn ra đời và gặt hái những thành công. Có lẽ thành công nhất ấy chính là nó đã tìm được bà đỡ mát tay, trên những trang tạp chí, nhờ vậy mà tác giả Trương Công Tường đã có một cái cớ thật đáng yêu để nịnh vợ mình, người đã hết lòng chăm sóc cho chồng, cho con trong những ngày cả nước cùng khó khăn, thiếu đói, ấy là dành những đồng nhuận bút để mua quà tặng con và áo rét tặng vợ, xét hành động này theo góc độ phân tâm học đó cũng chính là biểu hiện của dòng cảm thức Mẹ đã luôn tồn tại trong mọi nếp nghĩ và quy định nên cách hành xử đầy nhân bản ấy trong nhà thơ? Từ những tình cảm chân thành ấy, tác giả đã nhìn nhận cuộc đời có phần tươi sáng hơn, lạc quan hơn. Trong khổ thơ kết đã lấp lánh niềm vui khi đã hiểu gần trọn vẹn được chữ “văn” trong lời mẹ:
Lớn lên lời mẹ con ghi
Sữa từ rau cháo lọc vì chúng con
Con không bị những roi đòn
Nước non che chở cho con nên người
Hạnh phúc của nhân vật con là khi đã hội tụ đủ tư duy và bản lĩnh giữa đời để hiểu ra ý tứ sâu sa của mẹ, thì nỗi niềm thương nhớ lại dâng trào bởi mẹ không còn trên đời này nữa. Chỉ cảm thức Mẹ trong con là luôn tồn tại, là mãi mãi, câu thơ bất chợt trở lên chát đắng, nghẹn ngào, tâm thức Mẹ một lần nữa lại được tác giả trừu tượng hóa bằng biểu tượng chén tri ân, đẫm tính khái quát, ước lệ. Không phải là chén đựng rượu lạt đời thường, mà là chén dâng và chất liệu không phải là rượu đời thường vẫn dùng để rót vào chén cúng tế, mà là những lời thơ chắt lọc từ cuộc đời, hay cụ thể hơn là từ chữ “văn” trong đời con đã trải qua và đã thấm nhuần cặn kẽ. Ở khổ thơ kết này, cảm thức Mẹ đã được hình thành trọn vẹn, hoàn thành thiên chức nghệ thuật trong công tác xây dựng nhân vật, mạch thơ khổ kết đã thực hiện tiếp sứ mệnh chuyển hóa sang dòng tâm thức Mẹ, thổi hồn cho nhân vật và đưa tác phẩm về với đời sống thực, đời sống của những mối quan hệ tâm linh:
Mẹ vui trăm tuổi mẹ ơi
Chén dâng lên mẹ rót lời thơ con.
Đọc trọn vẹn bài thơ chén dâng lên mẹ với hai mảng cảm thức Mẹ và tâm thức Mẹ là nguồn cảm hứng chủ đạo cấu thành nên hồn cốt, diện mạo bài thơ, người đọc dễ dàng nhận thấy ở đó hội tụ đầy đủ những tinh hoa của một đời người, một đời thơ đã từng trải qua mọi biến cố của cuộc sống, qua những ý thơ ăm ắp triết lý nghiệm sinh và triết luận nhân sinh. Bỏ qua mặt hạn chế xúc cảm truyền tải từ người viết đến người đọc, là điểm yếu riêng của thể thơ lục bát truyền thống bởi quy tắc gieo vần, theo luật ép buộc, thì bài thơ Chén dâng lên mẹ vẫn là bài thơ viết về chân dung cuộc đời người mẹ rất hay và có sức lay động lòng người của tác giả Trương Công Tường. 
TRẦN XUÂN ĐẠT

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

Cảm hứng thời đại – Sức sống của tác phẩm qua một số bài thơ




Cảm hứng thời đại – Sức sống của tác phẩm  qua một số bài thơ

Dòng chảy lịch sử 4000 năm, đã thành nguồn nội lực thúc đẩy cho cảm hứng sáng tạo hừng lên từ sâu tâm khảm mỗi nhà thơ, mỗi thế hệ thi nhân. Chính tấm lòng khao khát sáng tạo, cống hiến, tiếp nối dựng xây truyền thống ngàn năm mà biểu hiện cao nhất của nó là tinh thần yêu hoà bình, yêu tự do, độc lập, yêu đất nước đã kết tinh thành nguồn cảm hứng thời đại cho dân tộc Việt những áng văn bất hủ. Tinh thần ấy, nguồn cảm hứng thời đại ấy đã chắp cánh cho câu thơ thần của Lý Thường Kiệt vang vang trên sóng nước Như Nguyệt:
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
 Như hà lỗ nghịch lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư,
Âm hưởng hào sảng, tự tôn, tự tại của những câu thơ đã khiến quân xâm lược Tống phải run sợ đến tan rã ý chí xâm chiếm cõi bờ Đại Việt. Hơn 400 năm sau, cũng từ luồng cảm hứng ấy Nguyễn Trãi đã thổi hơi thở thời đại đang hừng hực trỗi dậy vào Bình Ngô cáo thành sức mạnh của bản tuyên ngôn về sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc đầu tiên (bằng văn bản): Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần đã bao lần xây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương/ Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có...
Qua 2 cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc những năm của thế kỷ trước, dòng chảy lịch sử 4000 năm một lần nữa ghi lại những trang hào hùng, chói loà. Những trang sử ấy là mục đích, là khởi nguồn cho cảm hứng thời đại thấm sâu vào từng trang viết, từng tác phẩm đều sáng hừng lên tâm thế thời đại, tâm thế của những người chủ nhân chính nghĩa của đất nước sẽ chiến thắng kẻ địch hung tàn. Chế Lan Viên đã sớm nhận ra, cảm được ý nghĩa to lớn cùng vai trò lịch sử của thế hệ mình: Những binh nhất binh nhì mười tám tuổi/ Giết quân thù không đợi có hạt nhân..., những chiến sĩ trên tuyến đầu cầm súng đối mặt với kẻ thù trong cuộc chiến không cân sức: Ta phải đọ sức với tên cường quốc nghìn tỷ đôla man rợ/ Chân máu 5 lần nó đổ bộ lên trăng... và ông ghi lại và khẳng định tâm thế thời đại ấy rất thành công: ...Lịch sử có nhiều năm nhiều tháng nhiều ngày/ Nhưng những năm tháng này chói loà, hoá thân, đột biến/ Mạnh như rốn bão, như Hoả  Diệm Sơn, như động biển/ như cấp số nhân, như tổng số thành/ như sức trăm ta nhân với triệu mình/ như vạn vật cộng vào nhau, rồng bay trái chín...
Ở những bài thơ Đất nước đời anh - tác giả Nguyễn Sĩ Đại (Phó Tổng biên tập báo Nhân dân); Bốn ngàn năm sử ký - tác giả Bùi Bá Tuân (Phó Giám đốc Trung tâm UNESSCO Đông Bắc); Non nước rồng bay - tác giả Phạm Hữu Lý (Viện phó Viện Vật lý TW), cũng minh chứng phần nào vấn đề đã đề cập ở trên, mục đích giúp bạn đọc có thể hiểu vấn đề thêm rõ ràng minh bạch mục tiêu chính của phần nghiên cứu các tác phẩm này, xin đi từ khái niệm cảm hứng thời đại người viết muốn đề cập tới (chỉ mang tính tiêu biểu cho phạm vi bài viết), có thể hiểu là cảm hứng sáng tạo nghệ thuật mang tính chung /tiêu biểu cho một hay nhiều tác phẩm cùng thể loại, cùng khoảng thời gian ra đời, và đều mang đượm hơi thở của thời đại họ đang sống, qua mỗi tác phẩm độc lập, riêng rẽ nhưng lại gặp nhau tại một điểm chung trong hệ quy chiếu lý tưởng nghệ thuật, cùng góp sức kiến tạo nên dòng ý thức sáng tạo mang tính chân lý thời đại. Điểm chung này được xem như cộng hưởng hoàn hảo của các tần số sóng tâm hồn, ánh lên giá trị thẩm mĩ cho mỗi tác phẩm /văn bản/ thơ, như một mặc định chung cho một đề tài, đồng thời đó, cũng có thể coi như một phương tiện để hiểu thêm cách thức các tác giả đạt tới mục đích nghệ thuật ở mỗi cấp độ...Khi đặt vấn đề tìm đến một khía cạnh nhỏ trong mạch cảm hứng sáng tạo chủ đạo xuất hiện như một hiện tượng văn học, tuy không mới mẻ nhưng lại có sức sống bền vững và đặc biệt là tiềm tàng khả năng kiến tạo dấu ấn thẩm mĩ nhất định /giá trị thẩm mĩ/ cho đối tượng tiếp nhận /người đọc/ ở một số văn bản sáng tác văn học gần đây (bài viết này chỉ đề cập đến các tác phẩm thuộc thể loại thơ) trong sự nghiệp sáng tác của một số tác giả mà người viết ngẫu nhiên tiếp cận tác phẩm qua các phương tiện truyền thông, văn bản, văn bản điện tử (cụ thể là những bài thơ, tập thơ), ở đó yếu tố cảm hứng thời đại liệu có đóng vai trò quyết định để làm lên giá trị /dấu ấn/ thẩm mĩ cho từng văn bản thơ, hay ảnh hưởng từ sự chi phối của nó tác động đến cảm thức sáng tạo của tác giả /chủ thể sáng tạo/ trong suốt quá trình tạo tác tác phẩm? theo một cơ chế nào? Có mang tính chung /tổng thể/ hay riêng rẽ theo từng bộ phận của mối tương quan các quan hệ xét đến (chẳng hạn ý thức dân tộc, ý thức truyền thống văn hoá, ý thức truyền thống phát triển tri thức lịch sử, xã hội của các tác giả /chủ thể sáng tạo tác phẩm/ và tấm lòng, ý thức khao khát hướng về cội nguồn...).
Hệ quy chiếu 4000 năm lịch sử đã tạo ra tiêu điểm chung mang tính tiêu biểu cho một số sáng tác trong khoảng thời gian những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.  Ở đó, trường cảm hứng thời đại chan hoà, thẩm thấm vào từng mạch thơ của mỗi tác giả, khi ý thức về nó những năm đầu thế kỷ này - thế kỷ của công nghệ và khoa học phát triển đến đỉnh cao của tốc độ cơn bão sóng âm. Điều đó thể hiện khá rõ qua thi pháp mà các tác giả sử dụng trong từng tác phẩm, cụ thể ở ba tác phẩm bài viết đề cập tới là những bài thơ Đất nước đời anh, Bốn ngàn năm sử ký, Non nước rồng bay, chất liệu truyền thống được kết tinh, lắng lọc trong cảm quan hiện thực cách mạng mà tính chính luận là nguồn sữa quý cấu thành nuôi dưỡng nên. Nếu ở  Đất nước đời anh của Nguyễn Sĩ Đại là biểu hiện của ý thức kế thừa truyền thống văn hoá: Anh ra đời, nước đã bốn nghìn năm/ Vó ngựa cuốn dập dồn trang cổ sử bằng giọng điệu riêng sâu lắng, trữ tình, đằm thắm mà triết lý nghiệm sinh dóng riết thành nguồn, thành mạch tái hiện lại không khí buổi đầu dựng nước, thì Phạm Hữu Lý với Non nước rồng bay là tri thức của sự thể nghiệm tiếp nối, từ giọng điệu riêng toát lên tinh thần tri ân truyền thống dân tộc sâu sắc, rất giàu nhạc tính, ngôn ngữ, hình ảnh thơ đã mô phỏng lại được quá trình mở nước (công cuộc mở mang bờ cõi và chống giặc ngoại xâm bảo vệ trọn vẹn cõi bờ) của cha ông với âm tiết hào sảng: Đất nước bốn ngàn năm/ Con cháu lạc hồng/ Mấy thuở vang trống đồng đuổi giặc/ Xuống bể /Lên ngàn/ Vào Nam/ Ra Bắc/ Mở cõi bờ xây non nước tươi xanh. Rất gần gũi với sự phát triển logic lịch sử là Bốn ngàn năm sử ký của Bùi Bá Tuân luôn bám sát đến tận cùng sự kiện, tính kế thừa truyền thống văn hoá được đẩy cao thành triết lý sáng tạo, qua mô hình phát triển trường sự kiện (Ngàn năm thăng long) trong trường sự kiện (trong bốn ngàn năm sử ký) đã khái quát, mô tả, mô phỏng, tái hiện quá trình giữ nước và sự phát triển hình thái xã hội: Ngàn năm thăng long trong bốn ngàn năm sử ký /Ý trí vua Hùng dựng nước Văn Lang/ An Dương Vương - Âu Lạc đăng đàn/ Đại Cồ Việt - Cờ bông lau - Đinh Bộ Lĩnh. Sự tinh tế, sâu sắc trong chọn lựa và tái hiện các mô hình thật thành những hình ảnh thơ bằng hệ thống ngôn từ, câu chữ được các tác giả chú trọng, sắp xếp theo mô típ chung như một mặc định ngầm, các sự kiện được phát triển đều quy về khởi điểm xuất phát của thời gian, sau đó dùng trường liên tưởng phát triển cảm xúc sáng tạo riêng mình theo các hướng không gian luôn tồn tại cùng trường thời gian mặc định đó.
Cuộc kháng chiến vệ quốc trong thế kỷ trước, dân tộc Việt phải đối đầu với tên xâm lược đế quốc Mỹ sừng sỏ thế giới với tham vọng bá chủ thế giới và dã tâm chia cắt lâu dài tình đồng bào, tình dân tộc. Song hành và bảo đảm cho âm mưu ấy, là các loại vũ khí giết người tối tân, hiện đại đã từng khuất phục hoặc nghiền nát nền tự do của bao nhiêu dân tộc trên thế giới, dồn ép các dân tộc chịu khuất phục ấy vào vòng tăm tối của kiếp sống nô nệ. Dân tộc Việt “thà hy sinh tất cả” chứ không thể và mãi mãi không chịu khuất phục trước cường quyền, bạo ngược là ý thức truyền thống, trở thành triết lý sống còn của cả dân tộc trong suốt bốn nghìn năm qua, Chế Lan Viên đã thức tỉnh và bắt nhịp cùng ý thức dân tộc: Thời đại khác rồi Đinh Bộ Lĩnh ơi/ Không thể đánh giặc bằng cờ bông lau được nữa/ Cũng không thể như ông cha cắm cọc Bạch Đằng. Nguồn cảm hứng thời đại đã rung từng hồi chuông báo, thức tỉnh trái tim thi sĩ thức dậy và vươn lên cùng thời đại, cùng cả dân tộc trong cuộc kháng chiến chính nghĩa này, những vần thơ Chế đã lĩnh hội được đầy đủ nhất những dao động của nhịp rung ấy để toả sáng vào lương tri và trái tim nhiều thế hệ con người trên dải đất hình chữ S này. Bước qua thế kỷ, vẫn nhịp rung ấy của ý thức dân tộc, nhưng trong các tác phẩm đầu thế kỷ đã có sự tán xạ và ánh xạ lại thêm nhiều góc độ quan chiêm mới, Nguyễn Sĩ Đại trở về với những ưu tư trăn trở của mình và ý thức dân tộc như những tia xạ nhỏ rải khắp tác phẩm: Người nặng quá lưu ly, nỗi đau từng hoá đá/...Ba tuổi cơm cà đi phá giặc ân/ ...Đáy hồ sâu cứ náu một gươm thần/...  Anh một mình không đi hết Nguyễn Du/ ...Bàn chân anh đi chưa đến cuối mắt nhìn.
Bùi Bá Tuân lại đau đáu tìm về dòng triết luận trí nhân, đại nghĩa với hướng nhìn chan chứa ánh nhân sinh, những chớp sáng rạch ròi, đa sắc như ánh lửa thiêng sáng trên đài hoa chiến thắng: Dân tộc Tiên Rồng đồng hướng giữ giang sơn/ Trời triều Nguyễn hoá thành Việt Nam khởi tổ.../ Tổ quốc xây nền trên muôn vàn giông tố/ Nội tặc, ngoại xâm, binh lửa, thiên tai/ Nghiệt ngã thay! Nhưng thời nào cũng Quân giỏi – Thần tài... Thăng Long ơi! Ngàn năm đâu dễ “Thập toàn”.../ Chín năm kháng chiến Điện Biên/ ...”Chiến dịch Hồ Chí Minh” lịch sử chói loà, ý thức dân tộc không đơn thuần như một khái niệm bất biến mà đã có sự biến đổi, mở rộng giàu sức biểu cảm hơn với hệ thống những biểu tượng, tượng đài chiến thắng, niềm tin tất thắng của một dân tộc biết hy sinh vì “đại nghĩa trí nhân”, của giây phút bừng thức lương tri dân tộc trước những thử thách mới của thời đại đã và sẽ ập đến, đầy bất ngờ và hoàn toàn không dự báo. Cũng chung tần số và hướng cảm nhận, góc độ ý thức dân tộc nơi Phạm Hữu Lý biểu hiện tương đối ấn tượng, được biểu đạt như nút thắt trong tác phẩm, tác giả đã thể hiện lại những rung động nội cảm thành sự ngân rung của tâm trạng thơ, nét nhạc hùng tráng, ngợi ca sự tích anh hùng và sự bất diệt của ý chí quyết thắng, quyết tâm dựng xây tượng đài chiến thắng, rộn vang nhịp điệu thời đại: Đây Văn Lang/ Vạn Xuân/ Đại Cồ Việt/ Việt Nam/ Tổ quốc gọi những tên vàng chói lọi/ Đây Thăng Long/ Đông Đô/ Hà Nội... /Sang sảng “Chiếu dời đô” thuở trước... /Dạt dào mái chèo Hoa Lư về Đại La.
            Ý nghĩa của đài hoa chiến thắng, không nằm ngoài ý thức truyền thống phát triển tri thức lịch sử, xã hội của một dân tộc, biểu hiện trước hết ở tính tự lập, tự cường, biết ta, biết bạn, biết thù, đó phải được coi là những điều kiện xác quyết cho sự trọn vẹn chiến thắng chính nghĩa ở một dân tộc có tinh thần bất khuất bốn ngàn năm. Từ biểu tượng Người anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ đại diện cho chủ nghĩa anh hùng dân tộc - đã để lại cho đời bài học chiến thắng đầy nhân bản mà sâu sắc tột cùng, Chế Lan Viên đã phác thảo qua vần thơ chiến đấu đầy sắc bén và nhậy cảm thời cuộc, ông đã khái quát trọn vẹn cả một giai đoạn phát triển của cuộc chiến với yếu tố tiêu biểu, thể hiện mối quan hệ phức tạp giữa dân tộc Việt Nam với nước bạn láng giềng giai đoạn ấy, khi mà quyền lợi dân tộc đang dứng trước muôn vàn khó khăn để chuẩn bị cho đại cuộc thống nhất đất nước, với duy nhất một sự lựa chọn: Nguyễn Huệ bảo: “Ta đánh trận này lớn lắm/ Ai không đánh ở lại cùng ta xem đánh” /Lịch sử ngày xưa giống tựa trang này/ Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi cầm hoả hổ/ Thì ngày nay ta cưỡi những phi đội oai hùng/ Giết giặc giữa trời mây – Bình luận thời sự hè 72 của Chế Lan Viên . Ý thức lịch sử, xã hội đã được phát triển cao thêm với khái niệm hoàn toàn mới, sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc không chỉ gói tròn trong phạm trù từng tấc đất biên giới, từng vùng biển quê hương, mà còn bao hàm cả vùng trời bao la nữa. Chế Lan Viên đã đi từ sự tự nhận thức bằng ý thức dân tộc của mình để gián tiếp đề cập tới phạm trù của ý thức phát triển tri thức lịch sử xã hội hết sức khéo léo, như một sự tự khẳng định, một phản tỉnh cần thiết với những lực lượng đối nghịch đang nhăm nhe lợi dụng thời cơ đục nước thả câu trước vận mệnh dân tộc Việt Nam. Biểu hiện khía cạnh này ở tác phẩm thơ của Phạm Hữu Lý lại có chiều đằm thắm, nhân ái hơn bởi quy định góc nhìn thời cuộc, thế sự của thời đại với ánh quan chiêm đầy tự tin, có phần viên mãn, tròn trịa về một không gian - khoảng trời lịch sử và xã hội của những anh hùng, đẫm tính nhân văn: Ngàn năm đánh giặc ngâm thơ/ Tiếng gươm khua khúc dân ca ru hời/ .../Việt Nam rồng vút cánh bay/ Hoà cùng biển lớn vui vầy bốn phương/ Ta xây cuộc sống thiên đường/ Trên nền trí tuệ phi thường nhân dân/... Đẩy mạnh thiên tính nghệ thuật trong kết cấu nội cảm nhân vật biểu trưng, Nguyễn Sĩ Đại như muốn tìm điểm đến tri thức xã hội từ tri thức lịch sử, mà cũng có thể ông như đang phân vân muốn tìm đến điểm giao thoa giữa hai luồng tri thức ấy: Loa Thành dựng móng rùa nên cung nỏ.../ Anh lớn lên lúa ngút mắt Hà Tiên... /Đường Lũng Cú chưa lên cùng đất nước... /Em mười lăm, áo đã tím hoa cà... / Nên bây giờ anh chẳng thể đi đâu... / Anh bây giờ nước mắt bốn ngàn năm/ Tiếng hát bốn ngàn năm/ Thu xanh thành vĩnh viễn/. Và Nguyễn Sĩ Đại cũng đã tìm được cho mình cái điểm lý tưởng ấy, nó là kết lắng của quá trình vận động tri thức cả dân tộc đang khao khát hướng về một ngày mai, về một điểm đến từ tương lai, từ đỉnh cao tiến bộ loài người đang hướng tới bằng sức mạnh của sự tự thức tỉnh tri thức phát triển lịch sử xã hội mang hơi hướm của đại dân tộc: Cái mỏng mảnh đời anh dù vụt biến /Xin được hoá màu hoa tha thiết ở trên đời/ Hoá cỏ lành đất Việt mãi xanh tươi. Phát triển và nâng cao tầm nhận thức về ý thức phát triển tri thức lịch sử xã hội ấy cũng để dấu ấn khá rõ nét trong tư duy sáng tạo của Bùi Bá Tuân, dường như ông đã nhận diện được quy luật tương thích của nó, cũng như Phạm Hữu Lý và Nguyễn Sĩ Đại, Bùi Bá Tuân đã nắm bắt và tìm đến cốt lõi của sự tự vận động của các biểu tượng tiêu biểu: Tam đảo, Ba vì hổ phục, rồng vươn/ Tứ quý, tứ linh soi bóng Hồ Gươm/ Phong thuỷ bát phương oai hùng kỳ vĩ.  Nhưng điểm đến của Bùi Bá Tuân lại thuộc về thế giới của sự tự nhận thức, của sự tự vận động tâm linh vào niềm tin tuyệt đối, lòng tin vào tính nhân, tính thiện để làm nên chân giá trị ý thức phát triển lịch sử xã hội: Thấu hiểu muôn dân trầm trong bể khổ/ Trời đất Việt Nam “hoá độ bậc thánh hiền”.../ Thế trận lòng dân thiên thần huyền bí/ Đại nghĩa trí nhân gốc của sâu bền. Niềm tin ấy được Bùi Bá Tuân gửi gắm vào hình ảnh bậc đại chí, đại thánh của dân tộc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và tư tưởng của Người: Chín năm kháng chiến lẫy lừng điện biên/ Vang lời Bác Hồ tuyên ngôn bất hủ/ Hào khí ngàn năm Thăng Long trầm tích tụ/ Chiến dịch Hồ chí Minh lịch sử chói loà/ Tổ quốc Việt Nam ngàn vạn bài ca/ Dân tộc anh hùng – điệp trùng cung nhạc.
            Sự chiến thắng của chính nghĩa trước phi nghĩa là quy luật tất yếu của lịch sử phát triển của một dân tộc biết đoàn kết, hướng tới mục đích sống tốt đẹp, mục đích phát triển xã hội công bằng, văn minh, dân chủ và trên hết là tinh thần bình đẳng, bác ái. Sinh thời Hồ Chủ Tịch thường căn dặn: Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích giống nhà Việt Nam mà triết lý tận cùng là tấm lòng và ý thức khao khát hướng về cội nguồn dân tộc. Trong ba tác phẩm trên, hệ ý thức ấy trở thành kim chỉ nam cho hướng phát triển các nguồn cảm xúc sáng tạo của từng tác giả mà biểu hiện cao nhất là tư tưởng chủ đạo xây dựng nên hồn cốt, diện mạo, cấu trúc, nội dung nghệ thuật của từng tác phẩm thơ. Tính nhất quán trong tư tưởng mỗi tác phẩm không có nghĩa là sự pha trộn các sắc thái sáng tạo hoà lẫn vào nhau, đồng bộ hoá các tác phẩm mà trái lại, qua bản lĩnh sáng tạo của từng tác giả, nó được phản chiếu lại theo mỗi cung bậc cảm thức khác nhau, tạo nên hiệu ứng nghệ thuật duy cảm, nhưng mang dáng dấp của trường âm thanh, đẫm tính nhạc, ghi lại trung thực nhất sự va đập giữa các làn sóng xúc cảm toả ra từ trái tim mỗi tác giả. Vẫn là hành trình tìm về truyền thống lịch sử nhưng ở Bùi Bá Tuân là sự lý giải quá trình hình thành và phát triển của cảm xúc sáng tạo với niềm tin tưởng tuyệt đối vào bản chất loài người, là sự trỗi dậy của một tâm hồn khao khát hướng tới triết luận cuộc sống trí nhân đại nghĩa, biểu hiện căn bản của tính thiện. Nhưng ở Nguyễn Sĩ Đại lại là sự tìm về bản thể con người, là hành trình tìm lại bản ngã, bằng giải pháp đặt cái tiểu ngã vào  trong cái đại ngã để từ đó khẳng định vai trò bản ngã của mỗi con người như một hiện tồn trong lịch sử luôn song hành cùng người bạn lớn là thiên nhiên cỏ cây. Vẫn là hành trình ấy nhưng Phạm Hữu Lý lại đi sâu tìm tòi và nhấn mạnh vào vai trò quan trọng từ nguồn tri thức sống trong cội nguồn lịch sử dân tộc, dường như tác giả đang khao khát vươn tới sự bất tận của nguồn tri thức dân tộc qua biểu tượng một mùa xuân vĩnh cửu của Tổ quốc mến yêu.
            Sự tác động chi phối từ cảm hứng thời đại đến cảm quan thẩm mĩ trong quá trình sáng tạo tác phẩm của mỗi tác giả đều có thể tạo ra những hiệu ứng nghệ thuật khác nhau nhưng hiệu quả đạt tới giá trị thẩm mĩ cho mỗi tác phẩm nghệ thuật lại mang tính tương đồng, tương thích, phù hợp với giá trị mĩ học của thời đại. Tuy nhiên tính phát dẫn, truyền tiếp thông tin từ chủ thể sáng tạo đến đối tượng tiếp nhận phải thông qua một trung gian / đối tượng văn bản/ nên luôn luôn tồn tại sự biến đổi, tuỳ thuộc vào góc độ nhìn nhận và phông văn hoá của đối tượng cảm nhận, khi tiếp thu tác phẩm. Nhưng rõ ràng qua những tác phẩm và tác giả ở trên, thì yếu tố cảm hứng thời đại có thể khẳng định luôn đóng vai trò quyết định để làm lên giá trị /dấu ấn/ thẩm mĩ cho từng văn bản thơ, và sự ảnh hưởng chi phối của nó đến cảm thức sáng tạo của tác giả /chủ thể sáng tạo/ trong suốt quá trình tạo tác tác phẩm là rất quan trọng? Và cũng nhờ luồng cảm hứng sáng tạo này mà tác phẩm nghệ thuật chân chính có thêm sức mạnh để tồn tại mãi mãi cùng thời gian – yếu tố cuối cùng và duy nhất giúp tác phẩm có sự sống trường tồn trong lòng độc giả.
           

Trò chơi không gian trong nghệ thuật thơ HVL

Trò chơi không gian trong nghệ thuật thơ HVL

Không gian và thời gian - hai yếu tố thiết yếu cấu thành nên ý niệm về tồn tại và khái niệm về vũ trụ. Trong nghệ thuật, hai yếu tố này luôn đóng vai trò khơi gợi, đánh thức, dẫn dắt luồng cảm thức sáng tạo từ tâm hồn người nghệ sĩ. Và nó, không/ chưa bao giờ tách rời khỏi ý thức sáng tạo góp phần xây dựng nên /mảng/ không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong từng tác phẩm nghệ thuật /tập thơ/. Tuỳ thuộc vào mỗi góc độ, cảm quan riêng có của từng chủ thể sáng tạo mà sự xuất hiện của không/ thời gian nghệ thuật mang những sắc thái riêng, ghi đậm dấu ấn /ấn tượng/ của chủ thể, sâu sắc hay hời hợt, nông thô hay đằm thắm, lấp lánh những tia sáng hay nhoè nhoẹt những sắc màu, cùng tần suất xuất hiện liên tục hay cách quãng...  Và sự biến chuyển /về bản chất/ của nó (từ phạm trù không gian và thời gian vật lý sang không gian và thời gian nghệ thuật) cũng là lằn ranh giới giúp đối tượng cảm nhận /người đọc/ nhận biết được đôi chút xu hướng nghệ thuật và giá trị của từng tác phẩm, tác giả.  Bài viết này xin đề cập đến một khía cạnh nhỏ trong thơ Hàn Vũ Linh - khía cạnh không gian vật lý và không gian nghệ thuật.
Tập thơ Khoảng trời tặng em của Hàn Vũ Linh, Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2011, khái niệm không gian dường như bị bẻ gãy vụn bởi những tính đa chiều của các mạch xúc cảm, cái nhìn trực diện phân chia thành những tiểu vũ trụ nhỏ bé, những vùng không gian của ý thức bị phân rã thành những hạt nhỏ, lấp lánh ánh xạ lại cái tôi nội cảm chan chứa tâm trạng, hoài niệm, tiếc nuối, để rồi những tiểu vũ trụ, tiểu không gian đó hợp nhất trong một không gian chung nhưng không đồng nhất, không thuần chất - không gian của tình yêu - không gian của trái tim khao khát mãnh liệt được tặng trao, phân phát thứ quà đặc biệt của thượng đế ban cho riêng loài người - sự cô đơn và cảm giác hạnh phúc được yêu. Ở Khoảng trời tặng em, sự dịch chuyển sắc màu và những biến chuyển của sự vận động không ngừng của không gian và cảm thức của Hàn Vũ Linh về nó, đã trở thành một trò chơi trí tuệ, một trò chơi của cảm giác về hình tượng ngôn ngữ và hệ thống biểu tượng thơ, tất cả đã đi vào dấu ấn của tri giác, mang tính tiêu biểu như các bài Khúc hát dưới mưa, Trăng, Em đợi mùa thu, Mưa hoàng hôn, Biển không em, Em hãy về, Cơn bão cuối cùng, Đêm thuỷ tinh, Thế giới song song... ở những bài thơ này, trò chơi không gian (không gian vật lý và không gian nghệ thuật) khởi hành với quy luật của trò ru bic khởi nguyên từ bố cục các mảng hình khối, nơi đó (tập thơ Khoảng trời tặng em) ngôn ngữ đóng vai trò như những thanh đệm, trượt; tri giác là lực đẩy tương tác vào khối khối những góc cạnh (không gian vật lý); và linh giác, yếu tố quan trọng nhất của thi nhân, tựa như những lực phản lại chuyển động của tri giác, nhưng không mang tính triệt tiêu cơ học đơn thuần, nó có tác dụng định hướng và kết hợp cùng những xúc cảm sáng tạo đẩy các khối hình tượng, hình ảnh thơ định hướng các chiều không gian /không gian nghệ thuật/ về lý tưởng chung /các mặt đồng màu/ của tính chân lý, của sự thanh lọc tâm hồn, và khả năng cảm nhận cái đẹp đó là quỹ đạo của tính hướng nội trong toàn bộ tác phẩm: Màn đêm trượt vội qua cánh cửa mưa ướt/ Bỗng hoá mùa đông chật chội góc đường... Con đường đêm dài, bánh xe thẳng – cong/ Lăn vật vã trong những điều vụn vặt - Thế giới song song. Sự dịch chuyển của tư duy hình tượng ngôn ngữ, khái niệm (màn đêm, cánh cửa, mùa đông, góc đường, con đường, thẳng, cong) gợi về tư duy không gian thuần tuý cơ học/ sang tư duy không gian nghệ thuật đơn thuần (màn đêm trượt, cánh cửa mưa, mùa đông chật trội, lăn trong...), và chỉ thực sự trở thành chân lý nghệ thuật thơ khi (màn đêm trượt vội, bỗng hoá mùa đông, bánh xe thẳng, cong, lăn vội vã), chính luồng tri thức nghệ thuật đã biến mảng không gian tĩnh (thực) thành một không gian sống động, linh hoạt, giàu sức biểu cảm (ảo), và nhờ linh giác của chủ thể sáng tạo, đã trở thành một không gian đầy tính nghệ thuật. Ở không gian của chân lý nghệ thuật thơ ấy, người đọc có thể tìm ra, cảm thấy, hoặc linh cảm thấy, vẫn những hình ảnh thơ đó, nhưng chúng đã mang những giá trị biểu đạt khác nhau, lượng thông tin hàm chứa nhờ đó cũng tăng thêm, những hình ảnh thơ được tái hiện và có sức sống mới vượt qua phạm vi câu chữ, ở phạm vi bài thơ Thế giới song song, hình ảnh bánh xe thẳng - cong lăn vật vã đã thấm đẫm tâm trạng và mang tính dự báo cho những số phận - Người long đong, lận đận, và đầy trắc ẩn trong trường kiếm tìm đến tận chân hạnh phúc.
Vẫn mô típ phát triển, biến đổi của các mảng không gian, nhưng ở bài thơ Đêm thuỷ tinh là sự phân rã và ánh xạ lại những mảnh vụn của triết lý nghiệm sinh thể hiện sự dịch chuyển từ không gian cơ học sang không gian nghệ thuật thơ rất nhuần nhuyễn, có sự lắng đọng, kết tinh của cảm thức vào biểu tượng thơ. Không gian bị nén chặt vào mỗi chiều vận động của tâm thức để rồi tự vỡ vụn dưới sức ép cảm xúc, không gian trong bài thơ mang tính thuần cảm: Đêm thuỷ tinh bóp vụn ánh trăng tan/ Gương mặt méo dưới đáy sông khắc khoải... Mảnh gương xám vỡ đều và tuần tự/ Chôn sau lưng những khoảng lặng mơ hồ... Trải những âm thanh gầy guộc sau vòng tay tan vỡ/ Để con đường trôi trên đêm lạnh thuỷ tinh - Đêm thuỷ tinh. Chỉ là không gian của một cuộc tình, của sự trải nghiệm giữa anh và em, và sự thể nghiệm của cá thể anh với nỗi buồn miên viễn chung của kiếp người, đang trăn trở trước mỗi rung động của chính trái tim, nhưng đóng vai trò quyết định, dẫn hướng cho nghệ thuật thơ vượt qua lằn ranh giới tưởng như mong manh nhưng lại khó vượt qua giữa không gian cơ học và không gian nghệ thuật vẫn là yếu tố tri giác và linh giác của thi nhân, sự dịch chuyển không gian từ: (Đêm, ánh trăng tan/ đáy sông... Mảnh gương xám / khoảng lặng... vòng tay/ con đường, đêm lạnh) đến: (Đêm thuỷ tinh, ánh trăng tan/ dưới đáy sông khắc khoải... Mảnh gương xám vỡ/ Chôn, khoảng lặng... vòng tay tan vỡ/ con đường trôi, đêm lạnh) đã xuất hiện một vòng lặp nghệ thuật, cấp độ cảm xúc phát triển theo chiều không gian hình xoắn ốc, tạo cảm giác nới rộng, rộng mãi biên độ không gian nghệ thuật thơ mở dường như vô hạn. Trước cái vô hạn đó đã thúc đẩy ý thức ta tìm về bản ngã như một phương tiện duy nhất để hiểu được và thoát khỏi sự cô đơn - nỗi sợ hãi bản năng đang vây bủa. Thoát khỏi sự sợ hãi hay chiến thắng sự sợ hãi bằng sự tự thanh lọc tâm hồn chỉ khi ta đã hiểu được chính mình. Và trò chơi không gian sẽ kết thúc trong tác dụng khơi gợi từ sâu thẳm những ký ức, những hoài niệm, cho cái thiện định hình phôi thai từ chính sự rung động giữa độc giả /đối tượng cảm nhận/ và đối tượng văn bản /bài thơ Đêm thuỷ tinh.
Lằn ranh giới thực, ảo và những khái niệm mặc định đôi khi cũng bị trò chơi không gian lấn lướt, bẻ cong, vặn xoắn biến dạng, xuất hiện sự phối sắc giữa các mảng màu, các sắc thái cảm xúc không thuần nhất và đầy mâu thuẫn tâm trạng, thành những bi kịch của khát vọng khiến người nghệ sĩ /đối tượng chủ động bày ra trò chơi và là chủ thể sáng tạo/ cũng rơi vào trạng thái bị chi phối về cảm xúc bởi sự xuất hiện bất ngờ và tần suất dày đặc của những ánh, tia linh giác lấp loá, ẩn sau tính chất phi lý của liên tiếp những sự việc: Biển dài hơn bờ cát/ Trắng xoá lòng những con thuyền đi lạc/ Trôi mênh mông thu rụng sóng hoàng hôn... Thời gian ngủ vùi chôn ngọn nến cô đơn/ Trong leo lét đêm chảy tan tiếng gió... / Đếm không gian yên lặng đến vô hình.../ Hoang vắng rồi từng vệt xoáy điêu linh/ Lay vạt cỏ in hình người trong cát trắng.../ Biển không em... vô tận đến bao giờ - Biển không em. Dùng hệ quy chiếu này để so sánh một hệ quy chiếu khác và thủ pháp nói ngược, nhằm phản tỉnh những hiện tượng thực tại đang tuần tự diễn ra:  Biển dài hơn bờ cát/ Trắng xoá lòng / Trôi mênh mông; thu rụng; sóng hoàng hôn... Thời gian ngủ vùi chôn ngọn nến cô đơn/ Trong leo lét đêm chảy tan tiếng gió... / Đếm không gian, vô hình.../ Hoang vắng, vệt xoáy điêu linh/ vạt cỏ in hình người trong cát trắng.../ Biển không em... vô tận đến... với nguyên lý chồng chất sự việc, sự kiện khiến cảm thức đối tượng tiếp nhận liên tục phải cập nhật với những thông tin mới, tạo hiệu ứng thẩm mĩ nhất định trong việc tiếp nhận và xử lý các thông tin cần tiếp nhận, bị rũ rối, từ đó không gian (thời gian) thực bị đảo lộn và hiệu quả không ngờ của nó chính là sự hoài nghi bản chất của sự việc đang diễn ra trong đối tượng tiếp nhận là sự việc có thể có thật và có thể không có thật. Và sự hoài nghi đó có thể coi là nền tảng, đồng thời cũng là khởi thuỷ của sự ám ảnh nghệ thuật - mục đích cuối cùng mà tác giả muốn gửi gắm vào tác phẩm của mình - như một ấn tượng để xác định giá trị thẩm mĩ nhất định cho tác phẩm.
Ba bài thơ tiêu biểu cho ba khái niệm cơ bản về tính chân, thiện, mĩ (với cảm quan người viết bài viết này), khả dĩ có thể xây dựng nên một không gian thơ Hàn Vũ Linh. Ở đó trò chơi không gian là vấn đề chính mà tác giả bài viết này quan tâm đề cập, luận giải, hoàn toàn không nằm ngoài giá trị nhân bản, nhân văn có trong toàn tập thơ Khoảng trời tặng em. Người viết nêu ra vấn đề chỉ như một lát cắt mỏng trên lớp vỏ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ biểu đạt qua từng bài thơ, không mong đi sâu hay lạm bàn về những vấn đề như thi pháp, cấu trúc, nội dung tư tưởng của toàn tập thơ. Thiết nghĩ với triết lý sáng tạo của Hàn Vũ Linh đã bộc lộ ở phần mở đầu cuốn sách, cũng đủ giúp chúng ta, những độc giả yêu quý và trân trọng văn chương hiểu và thêm yêu quý một tâm hồn thơ đầy giông bão Hàn Vũ Linh.

TẠ THU HÀ
Biên tập viên NXB LAO ĐỘNG.